Trang Chủ

 

Chủ Trương

 

Tập Tin

 

Thực Hành

 

Thắng Trí

 

Đạo Tràng

  English Corner

 

 

 


 

Phương Pháp Của Ai? NEW

An Trú Chánh Niệm Đằng Trước Mặt NEW

Như Lai Thiền

Thiền Tâm

Định Nghĩa Cơ Bản

Chọn Đề Mục

Điều Thân

Điều Tức

Chánh Định Trên Đề Mục
--------

Hữu Sắc

Vô Sắc

Diệt Thọ Tưởng Định
--------
Nhập Lưu
--------
Đức Phật Viên Tịch

Viên Tịch Thứ Thiệt
--------

Sơ Đồ Tâm Thức
--------
Thiền Định Minh Hoạ

Huyết Áp và Thiền (New)

 

 

 

 

 

     
Các pháp Hữu Vi đều "Vô Thường" các ông phải cố gắng tu hành, các Đấng Đạo Sư chỉ là người chỉ đường. Đức Thế Tôn


Như Lai Thiền - Theravada (Thiền Tiểu Thừa)


(Dành cho những người có một tinh thần khoa học cao không tin vào những điều huyền bí viễn vông, vốn là một người rất nhân hậu và có rất nhiều phước báu điển h́nh: Họ kiếm tiền rất dể mà không cần lừa dối ai chỉ dựa vào sự nhân hậu của họ mà thôi).

 

V́ tự ḿnh đi t́m chân lư nên họ thường gặp rất nhiều trở ngại và phản ứng phụ khi tu tập. V́ quá tự tin, họ sẽ bị thế giới vô h́nh lừa dối họ bằng cách:

 

- Cầm chân họ lại, không cho họ tiến tu mà họ không hề hay biết! Như:
 

* Tạo những linh ảnh rất đẹp để họ ngắm nh́n mà quên mục đích chính của ḿnh là tu giải thoát.

* Báo mộng và nhất là dùng giấc mộng để lung lạc niềm tin của họ.

* Tạo những sự việc gần đúng với luận đoán của họ để họ tăng bản ngă lên và quên mục đích chính là giải thoát.

* Tập hợp những người lạ lại rồi tuyên xưng họ là Thầy này, Thánh kia.

 

- Họ rất lanh lợi trong đời sống hằng ngày nhưng lại rất ngay thơ trong  đời sống tu hành.  Thật ra chúng ta nên làm ngược lại th́ đúng hơn.

V́ kết quả của việc tu tập một cách sai lầm chỉ xảy ra cho họ sau một thời gian rất lâu (từ 6 tới 12 năm): Nên họ không cách ǵ mà biết được. Quả thật là phức tạp.  

 

THIỀN TÂM

 

Trong Thiền Tông, thường nói đến một trạng thái tâm lư được gọi là: TÂM THIỀN.

Có nghĩa là một sự thảnh thơi nào đó của tâm lư, hay một trạng thái KHÔNG nào đó. Sự việc này thường dẫn đến những sự hiểu lầm rất TAI HẠI, v́: Nó sẽ đưa chúng ta đi từ sai lầm này đến sai lầm khác. Và cũng chính nó làm ĐẢO LỘN tâm lư của ta và có thể biến chúng ta thành những người KHÙNG, ĐIÊN, MAD…(Mà những người nhẹ dạ có thể tưởng lầm đó là những vị đă ĐẮC ĐẠO).

     

Để tránh t́nh trạng trên, chúng ta nên đọc những tài liệu sau:

 

1.  ĐỨC PHẬT và PHẬT PHÁP của NARĂDA.

2.  TRUNG BỘ KINH (tập 3) của THÍCH MINH CHÂU

 

Trong những tài liệu trên, c̣n thiếu rất nhiều những KỸ THUẬT về phần thực hành.  Để bổ túc vô khoảng đó, tài liệu này chỉ bàn về THỰC HÀNH, và những phản ứng phụ CÓ THỂ xảy ra cho chúng ta trong lúc công phu. 

 

QUAN NIỆM CƠ BẢN của ĐẠO PHẬT

 

1.  Con người không có linh hồn và tư tưởng trong điều kiện "toàn giác".

2.  Không một cảnh giới nào chi phối được ta cả.

3.  Cố gắng giữ giới luật theo sức chịu đựng của ḿnh.

4.  Không được nóng vội, đốt giai đoạn trong lúc công phu.

5.  Nên t́m người giỏi hơn ḿnh để học hỏi. 

 

ĐỊNH NGHĨA CƠ BẢN

 

1.  CẬN ĐỊNH:

Là những phản ứng, cảm giác, h́nh ảnh xảy ra BẤT CHỢT, KHÔNG BÁO TRƯỚC trong lúc đang hay sau khi công phu.

 

a.  Phản ứng: Gồm những cử động BẤT CHỢT, KHÔNG BIẾT NGUYÊN NHÂN, trên thân.

b.  Cảm giác: Gồm những cảm nhận trên thân (nóng, ngứa, nghiêng, nổ, lắc, rần…)

c.  H́nh ảnh: Gồm những LINH ẢNH xuất hiện TRƯỚC khi nhập “chánh định”.

 

2.  TÀ ĐỊNH:

Là tất cả những CÁCH THỨC CÔNG PHU dựa vào ngũ quan để tập trung tư tưởng.

Ví dụ: thôi miên, nh́n vô nhang, nh́n vô mặt trời, niệm sáu chữ Di Đà chạy ḷng ṿng trên cơ thể, tập trung tư tưởng ở ĐẰNG SAU ÓT, hay có cảm giác nặng nặng châm chích ở ĐẰNG SAU ÓT…

 

3.  CHÁNH ĐỊNH:

Là AN TRÚ và làm cho đề mục xuất hiện NHƯ THẬT đằng trước mặt bằng sự tập trung tư tưởng (có 4 mức độ riêng biệt từ SƠ đến TỨ THIỀN.).

Ví dụ: Tu sĩ nhắm mắt lại, rồi tập trung tư tưởng về một ngọn LỬA và vẽ ngọn lửa đó bằng trí tưởng tượng của ḿnh cho tới khi: Ngọn lửa xuất hiện đằng trước mặt ḿnh một cách rơ ràng NHƯ THẬT. 

 

CÁCH CHỌN MỘT ĐỀ MỤC ĐỂ BƯỚC VÔ CÔNG PHU

 

1.  DỰA VÔ ĐẶC TÍNH ÂM DƯƠNG CỦA TỨ ĐẠI:

 

      Với mức độ âm dương từ thấp tới cao của TỨ ĐẠI được dự kiến như sau:

 

ĐẤT < NƯỚC < LỬA < GIÓ.

 

1.1  Đề mục ĐẤT: Giúp ta nhập vô SƠ THIỀN.

       Lấy một cục đất sét có đường kính 05cm sơn lên đó màu hồng lợt.

1.2  Đề mục NƯỚC: Giúp ta nhập vô NHỊ THIỀN.

       Lấy một ly nhỏ, đổ đầy nước. Dùng bề mặt của nước làm đề mục

1.3  Đề mục LỬA: Giúp ta nhập vô TAM THIỀN.

       Lấy một ngọn lửa nhỏ, như ngọn lửa của ngọn đèn dầu hột vịt

1.4  Đề mục GIÓ: Giúp ta nhập vô TỨ THIỀN.

       Lấy ảnh củ một cửa sổ (chính diện hay tả diện), trên đó có một tấm màn mỏng.

       Bị gió thổi và phất phơ nhẹ nhàng.

 

2.  DỰA VÔ TÍNH T̀NH CỦA TU SĨ:

 

2.1 Nóng tính (nhạy bén, lanh lẹ, nhạy cảm…)

      Lấy đề mục nước, hay một ḥn bi xanh lơ, đường kính 03cm

2.2 Ù LỲ (Chậm chạp, lờ mờ, ít nhạy cảm…

      Lấy đề mục lửa, hay một ḥn bi đỏ, đường kính 03cm

 

Trong ĐẠI THỦ ẤN hai Tổ TILOPA và NAROPA đă dùng 2 cách trên để chọn ĐỀ MỤC. 

 

CÁCH THỨC ĐIỀU THÂN

 

A.  TƯ THẾ THIỀN: Nhớ để nguyên CÁI LƯỠI tiếp xúc với HÀM ẾCH.

 

1.  Định nghĩa: Là một tư thế ĐƠN GIẢN, thăng bằng, an toàn, ít bị mỏi.

2.  Phân loại: Có hai tư thế thường dùng: NGỒI & NẰM.

 

·  Ngồi: Ngồi ở đâu, như thế nào cũng được, miễn an toàn thôi. Nếu thích ngồi BÁN GIÀ th́ nên theo cách đă được tŕnh bày ở các sách HATHA YOGA (Nhớ để bàn chân PHẢI trên bàn chân TRÁI). Nếu chọn tư thế ngồi trên ghế th́ để hai gót chạm nhẹ vào nhau.

·  Nằm: Nằm ở đâu, như thế nào cũng được, miễn an toàn thôi

 

3.  Phương Hướng: Có những người không hề bị DỊ ỨNG th́ sẽ có (4) cảm giác chính sau:

 

·  Cảm giác không ĐĂ, hay không AN TOÀN khi quay mặt về hướng đó.

·  Khi công phu BỊ VẶN CỔ một cách đột ngột về một hướng khác.

·  Cảm giác NHƯ BỊ NGHIÊNG, mà thật ra ḿnh ngồi rất thẳng.

·  Cảm giác LẮC LƯ nhẹ nhàng, ngay cả lúc nằm cũng vậy.

 

4.  Giải quyết: Cứ XOAY từ từ cả thân h́nh qua hướng khác (nhớ xoay theo chiều kim đồng hồ).

     Ví dụ: Nếu lần này ngồi ở hướng BẮC th́ tới lần công phu sau sẽ ngồi quay mặt về hướng ĐÔNG BẮC. Nếu lại không được, th́ ở lần sau, ta lại xoay qua hướng ĐÔNG…

 

B.  THƯ GIĂN:

 

1.  Định nghĩa: Là không gồng bất cứ bắp thịt nào KHÔNG CẦN THIẾT trong lúc công phu: Vẫn giữ hàm răng KHÍT, cả cái lưỡi tiếp xúc với hàm ếch (nóc vọng).

2.  Mục đích: Tránh VỌNG NIỆM thường xuất hiện vào lúc mới vô công phu.

3.  Thả tất cả các bắp thịt từ đầu ngón chân, qua các khớp, lên đến đầu. Nếu trong lúc buông thả mà có chỗ nào bị trở ngại th́:

Gồng nhẹ nó lên rồi thả ĐỘT NGỘT (Như 1 sợi dây đang căng bị cắt đứt đột ngột!). Điều thân cho ngon lành đă, rồi mới thực hành TIẾP TỤC… 

 

PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TỨC

 

A.  Định nghĩa:

 

Là sự chú ư vào sự RA, VÔ của hơi thở, dựa vô đó có thể thư giăn được dễ dàng hơn, chỉ đưa tu sĩ tới CẬN ĐỊNH thôi, đừng qúa tin vô kinh sách.

 

1.  Sự phân bổ khí lực:

       Khi hít VÔ: Khí lực bị CHẬN ĐỨNG.

       Khi thở ra: Khí lực được LƯU THÔNG.

       V́ thế, nên thư giăn các cơ bắp vào lúc: THỞ RA (thở ra dài hơn hít vô).

 

2.  Mục đích: Nối tiếp t́nh trạng CẬN ĐỊNH với CHÁNH ĐỊNH:

     Từ CẬN ĐỊNH qua CHÁNH ĐỊNH là qua hai trạng thái tâm lư rất khác nhau:

·   Ở cận định: THAM DỤC c̣n rất nhiều (không thể hết được!).

·   Ở chánh định: THAM DỤC càng ngày càng mất đi (tùy theo độ nhập định).

Nên khi đi từ cận định đến chánh định, ta sẽ không tránh khỏi một sự đảo lộn về tâm lư. Như chúng ta sẽ thấy như sau:

 

*** BẤT CỨ SỰ DAO ĐỘNG TÂM LƯ NÀO ĐỀU DẪN ĐẾN VẤN ĐỀ: tuột định. ***

 

 Do đó nên giải quyết như sau:

 

3.    Thực hành:

Với hai ngỏ vô (mũi, miệng) và hai chỗ chứa (phổi, bụng), ta có ngay sự phân bố về đặc tính  ÂM (-), DƯƠNG (+) như sau:

                 

                  Mũi (+) --- VÔ --- (-) Miệng

 

                  PHỔI (+) --- CHỨA --- (-) BỤNG

 

Ta nhận xét như sau: nếu khi thở, mà dùng MŨI với PHỔI là thuần DƯƠNG (+,+):

Ta sẽ bị nóng tính, hồi hộp, dễ kích động, KHÓ THƯ GIĂN…

Nếu khi thở có sự phối hợp giữa MIỆNG và BỤNG là thuần âm (-,-):

Ta sẽ bị: chết v́ kiệt, hay yếu x́u, bệnh nặng…

 

V́ vậy: Ta nên dùng MỦI và BỤNG: Âm dương điều ḥa: (+,-) là hơi thở TRẺ THƠ!

 

CHÚ Ư TỚI HƠI THỞ RA nhiều hơn HÍT VÔ (thở DÀI ra nhưng đừng quá mức).

     

Cố gắng tưởng tượng ra những con số của đồng hồ ĐIỆN TỬ từ 1 tới 12 ứng với từng hơi thở ra, vô. Nên nhớ cứ một lần VÔ, RA là một con số lại hiện ra.

Ví dụ: Nhắm mắt lại, khởi sự bằng hơi HÍT VÔ, khi THỞ RA lại tưởng tượng:


Ảnh minh hoạ
 

·  Con số xuất hiện (mờ mờ) ngay đằng trước mặt trong một khung h́nh nhỏ.

·  Lập lại ba (3) chu kỳ; mỗi chu kỳ gồm 12 con số hay 12 HƠI THỞ.

·  Chú ư đến việc TÁC Ư vô những con số đó để làm cho chúng RƠ lên.

·  Nên thở chậm thôi, cố gắng phồng BỤNG lên khi hít VÔ. RỒI SẼ QUEN! 

 

 THỰC HIỆN CHÁNH ĐỊNH TRÊN MỘT ĐỀ MỤC: LỬA

 

Trước hết, chúng ta phải hiểu tại sao lại phải thực hiện CHÁNH ĐỊNH

Trong những tài liệu về PHẬT GIÁO, về phần vũ trụ quan, có nói tới nhiều thế giới khác, trong một vùng không gian rộng lớn được gọi là: TAM THIÊN ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI. Vùng không gian này được chia ra làm BA vùng nhỏ hơn dựa vào những đặc tính chung của từng vùng. Ba vùng đó có tên như sau:

 

·  DỤC GIỚI (Gồm từ chư TIÊN dục giới: Tha Hóa Tự Tại đến A Tỳ địa ngục). Ở đây lúc nào cũng có sự hiện diện của 02 giống: ĐỰC và CÁI. Hành động của chúng là ĂN, UỐNG và GIAO DÂM. Tuổi thọ của những loài từ CON NGƯỜI trở xuống đều không BẰNG NHAU; những loài trên CON NGƯỜI đều có CÙNG MỘT TUỔI THỌ nếu cùng ở trên cùng một cung trời.

Khi nằm mơ thấy CON TRAI, CON GÁI v́: Tâm c̣n THAM DỤC.

 

·  SẮC GIỚI (gồm từ chư THIÊN sắc giới: Sơ Thiền đến Tứ Thiền). Ở đây KHÔNG C̉N 02 giống: ĐỰC và CÁI. Không có vấn đề giao dâm, và ăn uống. Thức ăn của họ chính là: LINH ẢNH của họ tạo ra trong cơn THIỀN ĐỊNH. Tuổi thọ của họ rất giống nhau trên cùng một cung trời.

 

·  VÔ SẮC GIỚI (gồm những chư THIÊN từ Không Vô Biên Xứ, tới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ). Ở đây không c̣n h́nh tướng của bất cứ cái ǵ nữa. Chỉ gồm toàn là tư tưởng.  Tuổi thọ của họ rất giống nhau trên cùng mt cung trời.

 

Chúng ta lại biết rằng:

 

DỤC GIỚI, trạng thái TƯ DUY đứng đầu. Có nghĩa là, ở đây, hiện tượng này KẾ TIẾP hay ĐẰNG SAU hiện tượng kia: Khi ta thấy hiện tượng này, th́ lại KHÔNG THẤY hiện tượng đứng liền sau đó.

 

Ở SẮC GIỚI, trạng thái ĐỊNH lại đứng đầu. Có nghĩa là, ở đây, hiện tượng này ở KẾ BÊN hiện tượng kia. Tương tự như vậy:

 

Ở VÔ SẮC GIỚI, khi ta thấy hiện tượng này, th́ ta lại THẤY RẤT RƠ hiện tượng đứng liền sau đó.

 

Vậy lợi điểm của vấn đề NHẬP CHÁNH ĐỊNH là: Ta có thể biết ngay lập tức BẤT CỨ vấn đề ǵ v́: hai hiện tượng lại ở KẾ BÊN nhau (như cái bàn ở KẾ BÊN cái ghế vậy).

Đó chỉ là lợi điểm nếu áp dụng nó vào những việc ở ĐỜI.

 

 Ví dụ:

·  Thực hiện CHÁNH ĐỊNH nơi luân xa YẾT HẦU: Tu sĩ sẽ không đói và khác

·  Thực hiện CHÁNH ĐỊNH nơi điệu bộ và h́nh tướng: Tu sĩ sẽ biết được TÂM LƯ của họ.

·  Thực hiện CHÁNH ĐỊNH nơi điệu bộ và kư hiệu: Tu sĩ sẽ biết được NGÔN NGỮ của họ.

Ở đây, chúng ta chỉ bàn tới việc sử dụng nó vô việc GIẢI THOÁT mà thôi.  

 

CẤU TRÚC VÀ SỰ H̀NH THÀNH CỦA MỘT TƯ TƯỞNG

 

Trước khi vô vấn đề “thực hiện chánh định trên một đề mục”, chúng ta phải biết sơ qua về cấu trúc, sự vận hành, và sự tạo nghiệp của một tư tưởng. Vấn đề này có tŕnh bày trong kinh VI DIỆU PHÁP hay TỐI THẮNG TẬP YẾU LUẬN của Thích Minh Châu (2 tập).

 

Chúng ta để ư đến sự việc xảy ra như sau:

·  Tiếng “cạch” do chúm ch́a khóa rơi trên mặt bàn. Khi đem phân tích nó dựa trên VI DIỆU PHÁP, ta có kết quả sau:

 

Sau khi ta nhận thức được sự việc vừa xảy ra như trên, trong một tiếng “cạch”: Ta biết rằng, hay có một tư tưởng trong đầu ta kết luận rằng: Đó là tiếng động của chùm ch́a khóa rơi trên mặt bàn, th́ tư tưởng đó đă qua năm (5) giai đoạn sau:

 

1.  Xuất phát từ luồng “BHAVANGA” (Cá tánh của ta).

2.  Vào những giác quan (ở đây gồm: Mắt, Tai và Ư).

3.  Làm các giác quan chú ư đến sự việc.

4.  Vào Tốc hành tâm (JAVANA) một cách yếu ớt.

5.  Ra Đăng kư tâm và Xác định tâm.

 

Tư tưởng đó đă di chuyển từ VI TẾ TÂM (1,2,3,4) đến THÔ TÂM (5) và mất đi một thời gian là: 17 sát-na tâm thức.

 

NGUYÊN TẮC TẠO NGHIỆP CỦA MỘT TƯ TƯỞNG

 

1.  Một tư tưởng SẼ TẠO NGHIỆP khi nó đủ mạnh có nghĩa là từ: (2,3,4,5)

2.  Một tư tưởng KHÔNG TẠO NGHIỆP khi nó không đủ mạnh có nghĩa là (1)

 

Để GIẢI THOÁT hay GIẢI THOÁT TRI KIẾN, chúng ta đem theo sự THANH TỊNH đến cho bằng được luồng BHAVANGA (cá tánh) và VƯỢT QUA nó để đạt được sự THANH TÂM hay AN CHỈ. 

 

ĐỊNH NGHĨA LUỒNG BHAVANGA

 

Là phần đầu của VI TẾ TÂM nó lúc nào cũng RUNG ĐỘNG và khó làm cho nó chấm dứt được. Nó được tạo nên, do, và theo ư của TƯ TƯỞNG CUỐI CÙNG của ta, khi ta chết ở kiếp trước. Và chính nó đă âm thầm hướng dẫn ta làm việc này việc nọ, ghét người này thương người kia và cũng chính nó đă d́m, đắm ta trong NGHIỆP QUẢ.

 

Như vậy cũng đă có QUÁ ĐỦ lư do để chúng ta thực hiện cuộc HÀNH HƯƠNG từ miền VÔ MINH đến miền GIẢI THOÁT qua con đường CHÁNH ĐỊNH. Con đường này không dành cho những THIÊN TÀI, mà chỉ dành riêng cho những ai tự thấy rằng ḿnh phải CẦN CÙ BÙ KHẢ NĂNG. Hay cho những ai v́ ṭ ṃ muốn t́m hiểu coi GIẢI THOÁT và GIẢI THOÁT TRI KIẾN là ǵ? 

 

Góp Nhặt H́nh Ảnh Các Đề Mục Thiền

http://www.hoasentrenda.com/smf/index.php?topic=1585.msg56424#msg56424

 

Hit Counter 

 

   

 

 

 


Last Edited: 07/31/2015  

 Contact:  Hoasentrenda@yahoo.com